Chiến lược Du học từ thuở trong nôi cùng Montessori – Phương pháp giáo dục lấy mỗi cá nhân làm gốc

(Giúp các bạn trẻ hiểu mình, các bậc phụ huynh hiểu con cái và phát triển tối ưu trí tuệ, sống hết mình với ước vọng của bản thân)

Montessori giải quyết được những vấn đề gì

Nền giáo dục hiện tại, như chúng ta thấy, xuất phát từ phương pháp giáo dục Factory Education, được ra đời ở thời kỳ đầu của Kỷ nguyên Công nghiệp hoá, tức là đào tạo những cá thể một kỹ năng cụ thể để làm việc trong nhà máy, công việc mà hiện giờ hầu hết đã được thay thế bởi robots. Chính vì thế trường học theo phương pháp này có kỷ luật nghiêm ngặt, tập trung dạy những kiến thức kỹ năng cụ thể theo sách giáo khoa. Học tập theo Phương pháp Montessori hoàn toàn mở, giáo viên chỉ giới thiệu tổng quát còn học cụ thể cái gì, trong thời gian bao lâu, học như thế nào, là do học sinh tự quyết định. Những lợi ích của Phương pháp Montessori mang lại rất nhiều, USPASSS xin tóm tắt sơ lược trước khi đi sâu hơn ở phần sau.

Phương pháp Montessori giúp học sinh:

-       Ham học từ thuở ấu thơ

-       Học tập phù hợp với sự phát triển của mỗi cá nhân, không phải theo lứa tuổi nhất định

-       Chủ động và tự chịu trách nhiệm về việc học tập của bản thân

-       Trẻ tự tin vào chính mình, không sợ hãi thất bại vì coi sai lầm là một phần của cuộc sống, giúp trẻ hoàn thiện kỹ năng và kiến thức về lâu về dài

-       Sống hài hoà với môi trường sống, bao gồm với xã hội và cả môi trường thiên nhiên (cấp bậc cao nhất của kỹ năng lãnh đạo, làm việc theo nhóm)

-       Suy luận lô-gic, khả năng thuyết trình tự nhiên, đúng mục đích

-       Phát triển nhân cách toàn diện, sống đúng với bản chất, bản năng của mình

-       Có hoài bão lớn, biết lập kế hoạch và hiện thực hoá ước mơ của mình

-       Yêu chuộng hoà bình, hiểu rằng mỗi con người là một cá thể sống hài hoà trong vũ trụ, không phải gây chiến tranh vì lợi ích của một nhóm nhỏ nào

 

Những ai tôn vinh Phương pháp Montessori

Rất nhiều chính trị gia, nhà khoa học đã ủng hộ hết mình Montessori ngay khi bà thành công với lớp học dạy trẻ cơ nhỡ sống cùng bệnh nhân tâm thần.

Đây là danh sách một số nhân vật tiêu biểu sống ngoài nước Ý:

-       Nhà sáng chế người Mỹ Alexander Graham Bell, người phát minh ra điện thoại. Ông là một trong những người đầu tiên hỗ trợ để Montessori tới Mỹ thuyết trình

-       Thomas Edison, tác giả của hơn 1.000 bằng sáng chế, cũng nỗ lực hết mình mở những trường Montessori đầu tiên trên đất Mỹ

-       Hai nhà sáng lập Google, Larry Page và Sergey Brin. Cho dù ba mẹ đều là giảng viên đại học, họ cho rằng thành công của họ là nhờ học ở trường Montessori, nơi có giáo trình mở giúp học sinh tự đào sâu điều mình ham thích, không phải học theo sách giáo khoa, là chìa khoá thành công của họ

-       Nghệ sĩ nhạc rap Sean Diddy Combs, người được Forbes đánh giá là giàu nhất trong số các ca sĩ hip-hop năm 2012, cho rằng “Phương pháp Giáo dục Montessori chính là con đường chắc chắn để trở thành những nghệ sĩ đầu bảng, được minh chứng rõ ràng bởi sự thành công của học sinh tốt nghiệp, khiến người ta phải nghi ngờ có hay không sự tồn tại của đế chế Montessori Mafia”. (Theo Wall Street Journal)

-       Tiểu thuyết gia nổi tiếng Gabriel Garcia Marquez. Ông nói “Tôi không tin có phương pháp giáo dục nào tốt hơn Montessori trong việc giúp trẻ nhạy bén với vẻ đẹp của thế giới và khơi gợi được ham thích khám phá những bí ẩn của đời sống”.

-       CEO của Amazon Jeff Bezos, người đi đầu cho chiến lược phát triển cứ đi là tới. “Dù rất nhiều nỗ lực không mang lại kết quả gì, nhưng cứ đi tới cuối con ngõ nhỏ, bạn sẽ nhìn thấy một đại lộ rộng thênh thang”, Bezos nói.

Sơ lược lịch sử ra đời Phương pháp Montessori

Montessori đến với giáo dục không phải là nghề đầu tiên. Bà đã đấu tranh với cha, làm một cuộc cách mạng trong gia đình và cả xã hội Ý, khi trở thành NỮ bác sĩ đầu tiên. Sau đó khi được giao nhiệm vụ chăm sóc những trẻ cơ nhỡ sống cùng các bệnh nhân tâm thần, niềm tin yêu mãnh liệt của bà vào trẻ em mới bắt đầu. Người khác coi trẻ em bị tâm thần khi bò xuống sàn nhà để nhặt những mảnh vỏ bánh mì, còn bà thì coi đó là bản năng sinh tồn, khi trẻ bị sống trong đói khổ. Sau một thời gian tự tay chăm sóc, bà đã Normalize (Bình thường hoá – theo cách nói của Montessori, nghĩa là: Đưa trẻ về đúng bản chất phát triển) nhóm trẻ này, giúp chúng có kết quả đánh giá năng lực cao hơn cả những trẻ em bình thường được học hành đàng hoàng. Bà đã nổi danh trên khắp thế giới ngay từ đó, nhiều người cho là bà có “phép thuật”, tuy nhiên điều bà làm chỉ là dạy trẻ bằng cách quan sát và hiểu đúng bản năng phát triển của trẻ.

Khi tự định nghĩa về Phương pháp giáo dục Montessori, bà nói rằng Phương pháp này là “Hỗ trợ để giúp mỗi nhân cách độc lập trong cuộc sống”, hay là “Phương tiện giúp phát triển toàn diện nhân cách, thoát khỏi sự chèn ép của những định kiến giáo dục lỗi thời”. Nhờ tính đúng đắn của Phương pháp này, nó đã lan toả khắp nơi cả về chiều rộng và về chiều sâu. Ngày càng có nhiều trường Montessori ra đời trên toàn thế giới. Năm 1907 bà mở trường đầu tiên dành cho trẻ ở lứa tuổi 3-6, sau đó tự những người theo bà đã mở rộng ra lứa tuổi 0-3, sau đó bà phát triển giáo án cho lứa tuổi 6-12. Ngay từ khi bà còn sống, ở Ấn Độ đã có người muốn mở trường đại học theo Phương pháp Montessori. Hiện nay, nhiều năm sau khi bà qua đời, đã có không ít trường trung học Montessori ra đời. Thậm chí ở châu Âu một số nơi còn áp dụng Phương pháp của bà để dạy nghề cho người trưởng thành.

Nếu ai đã từng mua giáo cụ Montessori (Montessori materials) cho con, có thể nhận thấy tính chi tiết, khoa học của từng giáo cụ. Học theo một số nhà khoa học Pháp (sử dụng giáo cụ giúp pháp triển Giác quan – Sensorial), và dựa trên những kiến thức toán học, ngôn ngữ, khoa học mà bà vốn rất xuất sắc, bà đã tạo nên bộ giáo cụ vô cùng đồ sộ, cho trẻ trải nghiệm, sau đó chỉ giữ lại những thứ mà trẻ thích và giúp trẻ phát triển các giác quan một cách hiệu quả nhất. Từ kích thước, số lượng, màu sắc, cân nặng, khả năng tự phát hiện lỗi… tất cả đều được bà tính toán chi tiết. Phức tạp như vậy, nhưng giáo cụ mới chỉ là một phần rất nhỏ của Phương pháp Montessori.

Bên cạnh triết lý lấy mỗi cá thể làm gốc, những gì bà phát triển đều dựa trên kết quả nghiên cứu tâm lý học và khoa học não bộ, dù ở thời điểm đó nghiên cứu khoa học rất hạn chế, và chưa có ai quan tâm đến những gì xảy ra trong não của trẻ nhỏ, mà luôn coi trẻ là thành phần gây “phiền phức”.

USPASSS xin đưa ra một ví dụ về khả năng “đi trước thời đại” của Montessori. Mãi sau này tâm lý học mới chứng minh được sức mạnh của thói quen (The power of Habit), nghĩa là khi chúng ta làm việc, học tập theo một trình tự nhất định, kiến thức sẽ được ghi nhận vào Vô thức của não, và tồn tại mãi mãi trong não (ví dụ khi rèn luyện hàng ngày một môn thể thao nào đó, đi xe đạp, lái xe hơi – là những thứ dù có bỏ không làm một thời gian vẫn không bao giờ biến mất), đối lập với việc học tập không nhất quán, tạm thời, khiến kiến thức chỉ được ghi nhớ vào phần Ý thức của não và tồn tại một cách ngắn hạn (học thuộc một thông tin cụ thể nào đó như một bài thơ, số điện thoại…). Ngay từ khi mở trường, Montessori đã quan sát rất kỹ trẻ và phát hiện ra rằng việc trẻ làm cái gì đó lặp đi lặp lại là quá trình giúp não bộ phát triển, hình thành những dẫn truyền xung thần kinh để giúp trẻ có thể ghi nhớ thông tin. Khi não trẻ con non nớt, điều bà làm ở trường học là biến việc học thành “nghi thức/quy trình” tuần tự để những gì trẻ học được đi vào Vô thức, tạo nền tảng cho trẻ học những kiến thức phức tạp về sau. (Phụ huynh có thể tham khảo trang web này để thấy mỗi kỹ năng được dạy bài bản và tuần tự như thế nào ở lớp học Montessori http://www.infomontessori.com/practical-life/introduction.htm).

Trước khi đi vào chi tiết Phương pháp Montessori để các bạn trẻ và phụ huynh có thế áp dụng, chúng ta hãy nhìn lại xem khoa học ngày nay đã phát hiện ra những gì về tâm lý học và khoa học não bộ.

Những phát hiện mới về Khoa học thần kinh não bộ

(trích từ cuốn Rethinking the Brain)

Lướt facebook 10 phút, chúng ta có thể thấy đến 1/10 là những câu chuyện đáng kinh ngạc của trẻ nhỏ từ 2-6 tuổi. Mỗi ba mẹ có thể nghĩ con mình thật giỏi, nhưng thực ra trẻ nào cũng có nét đặc biệt khiến ba mẹ chúng phải kinh ngạc. Không cần được dạy chi tiết, trẻ chỉ cần quan sát được từ môi trường là thực hành y chang, thậm chí còn sáng tạo độc đáo ngay từ khi chưa biết nói.

 

 

Quan niệm cũ

Khoa học chứng minh

1

Trí não là sản phẩm của gen di truyền.

Trí não phát triển dựa trên mối tương tác phức hợp giữa gen di truyền và những trải nghiệm trong môi trường sống.

 

2

Những trải nghiệm trước 3 tuổi không có ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển sau này.

Những trải nghiệm thời thơ ấu giúp hình thành cấu trúc não bộ.

Tới 3 tuổi, não trẻ hoạt động năng động hơn 2.5 lần so với người lớn, và duy trì ở tốc độ này trong 10 năm đầu đời.

3

Mối quan hệ an toàn với người chăm sóc tạo nền tảng cho trẻ phát triển và học hỏi.

Mối quan hệ tương tác ở tuổi ấu thơ không chỉ giúp tạo nền tảng, mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới cách não bộ phát triển.

4

Não phát triển theo tuyến tính: não học hỏi và thay đổi một cách đều đặn từ tuổi ấu thơ cho đến khi trưởng thành.

Sự phát triển của não bộ không đi theo đường thẳng: có những thời điểm chủ chốt để trẻ tiếp nhận tối ưu những tri thức và kỹ năng nhất định trong cuộc sống.

Và bây giờ chúng ta hãy cùng xem Montessori nói gì từ khi khoa học não bộ còn rất hạn chế.

Sơ đồ phát triển não bộ của Montessori

 



Factory Education bắt đầu từ tuổi lên 6, vì khi đó trẻ đã biết nghe lời và có thể ngồi học theo sắp xếp bàn ghế của trường. Tuy nhiên, khoa học hiện đại đã chứng minh, và như phát hiện của Montessori, thời điểm não phát triển mạnh nhất là từ 0-3 tuổi, và từ 3-10 tuổi não trẻ hoạt động mạnh hơn não người lớn 2.5 lần. Khi não phát triển mạnh, nhu cầu vận động tay chân, thể thất cũng cao theo. Đó là lý do tại sao trẻ luôn nghịch ngợm, không thể ngồi yên một chỗ ở lứa tuổi này. Vậy tại sao không dạy trẻ ở trạng thái vận động thoải mái, như lớp học của Montessori, mà lại bắt trẻ ngồi ngay ngắn hàng giờ để nghe giảng? Giáo dục, như Montessori nói, phải bắt nguồn từ bản chất phát triển của con người, được minh chứng bằng khoa học, chứ không phải dựa trên những khuôn phép phi thực tế, chỉ hạn chế chứ không giúp hoàn thiện con người.

Nếu chúng ta ở Việt Nam mà đọc và nghi ngờ hay phản đối Montessori thì không có gì là lạ. Vì những gì bà làm quá khác xa so với thực tế mà chúng ta thấy. Trong suốt thời kỳ bà còn sống, nhiều chuyên gia đã đến thăm trường của bà chỉ để tìm ra khiếm khuyết, nhưng rồi họ lại ra về với sự khâm phục tuyệt đối. Một đứa trẻ lên 4 chưa thể cầm bút viết nhưng lại có thể dùng bộ chữ cái xếp tên theo đánh vần của khách thăm quan. Một đứa trẻ lên 5 có thể làm toán đến phần nghìn, khi cô giáo nói sai kết quả, bé chỉ cần nhẩm tính trong đầu biết mình sai ở đâu và quay ra làm lại cho kết quả đúng. Trong 4 tháng triển lãm lớp học ở bang California của Hoa Kỳ, lớp học của bà đã có hàng ngàn người tới thăm, dù diện tích nhỏ. Rất nhiều người đến chiêm ngưỡng lớp học của bà nhiều ngày liền, phải xếp hàng thật sớm để được ngồi chỗ tốt. Đó là lớp học làm hoàn toàn bằng kính, để quan khách có thể quan sát. Trong lớp học đó, trẻ từ 3-6 tuổi “làm việc” như mình mong muốn, một cách chú tâm nhất. Đôi khi trẻ nhìn ra ngoài thấy có người quan sát mình, nhưng điều đó không hề làm chúng bận tâm, mà hoàn toàn chú tâm đến công việc của mình. Trẻ thì lau chùi bàn ghế, trẻ thì lau giày. Có trẻ giặt phơi quần áo, đánh răng rửa mặt. Có trẻ rót nước vào ly cắm hoa, có trẻ tưới cây cỏ. Có trẻ làm toán, trẻ học viết.... Đến giờ ăn trưa, trẻ sắp xếp bàn ăn, cắt thức ăn cho nhau, mời nhau nước, sữa, đồ ăn. Ăn xong tự thu xếp bát đĩa, dọn dẹp bàn ăn gọn gàng không cần phải có ai nhắc nhở. Điều này không có nghĩa trẻ ở lớp học không mắc lỗi. Mắc lỗi là một phần của quá trình học hỏi, và giáo viên ở lớp học Montessori không bao giờ mắng trẻ, mà luôn khuyến khích trẻ làm lại cho đúng. Nếu một bạn nào đó làm đổ lọ nước, bạn đó sẽ không thấy sợ hãi và các bạn xung quanh sẽ chạy lại giúp đỡ.

Một video thú vị về những gì diễn ra trong lớp học Montessori

 

Một bộ trưởng giáo dục đã từng nói với Montessori là bà đã quá thành công, đã tạo nên trật tự từ sự hỗn loạn (lớp học của Montessori không có bàn ghế truyền thống, trẻ thích ngồi thích đi, thích nằm kiểu gì tuỳ thích), rằng điều này không chỉ tốt cho giáo dục nói chung, mà còn tốt cho cả cấp độ quản trị quốc gia.

Dạy và học gì ở từng giai đoạn phát triển (con người và não bộ)

Montessori chia sự phát triển của mỗi cá nhân thành 4 giai đoạn. Giống như sơ đồ trên, giai đoạn I và III phát triển mạnh nhất, còn giai đoạn II và IV yên bình hơn và là giai đoạn đúc kết kiến thức, kinh nghiệm. Tuy nhiên dù ở giai đoạn nào, nhu cầu Độc lập của trẻ vẫn nổi trội.

1. Giai đoạn I 0-6 tuổi: Sự hình thành con người.

- Đặc trưng là Absorbent Mind, khi đó não của trẻ tiếp thu thông tin từ môi trường giống như bọt biển, tiếp thu một cách tuyệt đối, không có lựa chọn. Điều này có nghĩa môi trường tốt thì trẻ tốt, môi trường không tốt trẻ sẽ không tốt.

- Từ 0-3 tuổi não bộ phát triển phần Vô thức

- Từ 3-6 tuổi não bộ phát triển phần Ý thức

- Là giai đoạn phát triển Nhạy cảm, đặc biệt bén nhạy để học hỏi về:

+ Trật tự, trình tự (nhiều cha mẹ ngạc nhiên vì trẻ ngăn nắp ngọn gàng từ nhỏ, thực ra đây là sự phát triển tự nhiên của mọi trẻ em)

+ Ngôn ngữ.

+ Hoàn thiện các giác quan.

+ Hoàn thiện kỹ năng vận động chân tay. Nhiều người quan niệm học phải là học kiến thức, với trẻ nhỏ việc trẻ vận động chân tay cũng là học, giúp não sản sinh nơ-ron thần kinh mới và phát triển đường dẫn truyền xung thần kinh.

- Quan tâm tới đồ vật cụ thể. (Chưa có khả năng lý luận trừu tượng)

- Phát triển thể chất

- Hình thành nhân cách

- Độc lập về cơ thể, muốn tự làm (trẻ chỉ muốn quan sát chứ không muốn được cầm tay giúp đỡ. Nhu cầu này cũng khiến cho nhiều trẻ phản khán không ăn khi ba mẹ không cho con tự ăn từ nhỏ mà kéo dài thời gian bón (đút) cơm cho con).

Dựa trên đặc thù của giai đoạn này, lớp học Montessori tập trung dạy những mảng chính sau:

-       Practical Life: Kỹ năng sống. Về thực chất là việc làm việc nhà, các kỹ năng để giúp trẻ tự chăm sóc bản thân. Phần quan trọng nữa là dạy cách cư xử, phép tắc giao tiếp cho trẻ. Bản năng của trẻ là quan sát và học hỏi (thông qua bắt chước gần như 100%) những gì trẻ thấy từ môi trường. Chính vì thế bắt đầu rèn trẻ từ thời điểm này sẽ tránh việc phải thúc ép trẻ làm việc nhà và nhiều hoạt động khác sau này, khi “thời kỳ nhạy cảm” không còn tồn tại nữa sau 6 tuổi.

-       Sensorial. Khi mới sinh ra, trẻ được tạo hoá ban cho những giác quan thính nhạy để phát huy bản năng sinh tồn. Không chỉ để sinh tồn, việc tương tác với những giáo cụ Sensorial còn giúp não trẻ phát triển những dẫn truyền xung thần kinh não, để trẻ phát triển phần Ý thức của não và học hỏi sau này.

-       Ngôn ngữ. 6 tuổi – tuổi chính thức tới trường không phải là lúc trẻ nhạy cảm về ngôn ngữ. Thông thường là từ 3-4 tuổi. Trẻ ở lứa tuổi này ở lớp học Montessori đều có thể viết và đọc, nhờ có những giáo cụ đặc biệt giúp trẻ tự học.

-       Toán. Chúng ta hay nhắc đến giáo cụ trực quan, đó chính là cách Montessori xây dựng giáo cụ toán học cho trẻ. Quan sát thấy trẻ có khả năng làm toán nếu có công cụ hỗ trợ phù hợp, Montessori đã làm nên bộ giáo cụ để trẻ có thể nhìn, sờ nắm, và hình dung trong đầu khi làm toán. Cùng để giải toán, Montessori tạo ra nhiều giáo cụ khác nhau, để trẻ “chơi” mà học. Nhờ đó trẻ nào cũng có thể giải toán, dù chưa đến 6 tuổi.

-       Văn hoá. Theo Montessori, văn hoá hình thành nên con người. Ngay ở tuổi nhỏ trẻ đã được học hỏi về các nền văn hoá khác nhau. Gần đây chúng ta hay nghe khái niệm Toàn cầu hoá giáo dục. Montessori đã thực hiện nhiều năm nay. Việc học hỏi về văn hoá giúp trẻ có thể kết bạn, làm việc với nhiều dân tộc khác nhau. Đặc biệt khi hiểu về nhiều nền văn hoá, tôn trọng các nền văn hoá khác biệt, trẻ sẽ không có quan điểm cực đoan, sử dụng bạo lực để bảo vệ một nhóm lợi ích nhỏ nào.

Đây là trang web nêu khá chi tiết giáo trình dạy trẻ từ 3-6 tuổi. Các phụ huynh có thể tham khảo để hướng dẫn cho con mình. http://www.infomontessori.com/practical-life/introduction.htm.

 Nếu phụ huynh muốn mua giáo cụ Montessori chuẩn mực có thể tham khảo trang web này http://shop.heutink-usa.com/best-sellers.html. Mua toàn bộ giáo cụ sẽ rất tốn kém, tuy nhiên chúng ta có thể học hỏi và tự làm đồ bằng gỗ hoặc những vật liệu quanh ta khá dễ dàng ở Việt Nam.

2. Giai đoạn II 6-12 tuổi: Phát triển trí tuệ

Sau giai đoạn tiếp nhận vô điều kiện từ môi trường, trẻ chuyển qua giai đoạn mà bắt đầu học hỏi có chọn lọc. Trẻ quan tâm đến vũ trụ, đến đúng sai, giàu trí tưởng tượng và liên tục đặt những câu hỏi Vì sao cho người lớn.

-       Không thoả mãn với những gì có trong sách vở, phòng trưng bày nữa mà trẻ muốn đi ra ngoài khám phá thế giới thật

-       Vượt qua mối quan tâm đến đồ vật cụ thể, trẻ bắt đầu tư duy trừu tượng, suy nghĩ lô-gic

-       Đặc biệt quan tâm tới vũ trụ, muốn biết căn nguyên, ngọn nguồn của mọi sự vật, hiện tượng

-       Nhu cầu độc lập nâng lên cấp độ mới, độc lập về tư duy. Trẻ muốn “Tự mình suy nghĩ” không lệ thuộc vào người lớn

Xuất phát từ nhu cầu này, Montessori phát triển giáo trình mở Cosmic Education, bao gồm 5 Bài học Lớn (Great Lessons):

-       Bài số 1: Sự ra đời của vũ trụ và trái đất

-       Bài số 2: Sự ra đời của sự sống

-       Bài số 3: Sự ra đời của loài người

-       Bài số 4: Lịch sử giao tiếp

-       Bài số 5: Câu chuyện về các con số

Nhiều trường Montessori in giáo trình dưới dạng Kỷ yếu Timeline, ghi lại những cột mốc chính trong từng bài học, sau đó học sinh sẽ chọn phần mình yêu thích và tìm hiểu sâu về nó.

Phụ huynh hay các bạn trẻ học phổ thông có thể tham khảo tại đây http://www.missbarbara.net/greatlessons.html.

USPASSS xin dừng lại một lát để nhấn mạnh rằng, trẻ học Montessori được học ngôn ngữ (thậm chí là ngoại ngữ) khi chưa 6 tuổi, và ở cấp 1 theo hệ thống giáo dục truyền thống, trẻ học Montessori đã được học những kiến thức một cách hệ thống mà nhiều khi trẻ ở cấp 2 ở trường thông thường chưa được học. Dù tiếp thu một lượng kiến thức khổng lồ như vậy, trẻ học Montessori hoàn toàn tự nguyện với một sự say mê tuyệt đối. Không có giáo viên nào thúc ép, giáo viên chỉ trình bày giáo trình một các tổng quát, đưa ra những chi tiết hấp dẫn để cuốn hút học sinh, còn lại học sinh hoàn toàn chủ động trong việc học tập nghiên cứu.

3. Giai đoạn III 12-18 tuổi: Dậy thì.

Montessori còn gọi đây là thời kỳ tái sinh, sau thời kỳ khai sinh. Thay đổi về hormone khiến trẻ có nhu cầu vận động thể chất cao hơn nhiều so với giai đoạn II. Cả tâm sinh lý đều thay đổi mạnh mẽ, khiến nhiều cha mẹ thấy khó kết nối với con ở giai đoạn này.

-       Trẻ quan tâm tới bản thân, biết nhìn nhận chính mình

-       Có khả năng suy ngẫm sâu sắc và tái đánh giá vấn đề

-       Bắt đầu hành trình đi tìm chỗ đứng của mình trên thế giới rộng lớn (xác định nghề nghiệp, mục đích sống)

-       Xây dựng những giá trị đạo đức, nhân văn cho chính mình

-       Ở hai giai đoạn trước trẻ làm việc cùng nhau trong môi trường lớp học, trường học, ở giai đoạn này trẻ làm việc cùng nhau trong môi trường sống thật, làm những sản phẩm thật của đời sống. Nhiều trường trung học Montessori được xây dựng ở trung tâm học thuật nghiên cứu, giúp sinh viên có thể tham gia vào dự án thật ở nhiều công ty, tổ chức trong vùng.

-       Nấc thang mới của sự độc lập: Tôi có thể đứng trên đôi chân của chính mình.

Trẻ ở Việt Nam nên làm gì ở giai đoạn này theo Phương pháp Montessori?

Các bạn trẻ hãy làm những dự án thật. Học ở trường, học sách vở là học kiến thức cần thiết. Nhưng để thoả mãn nhu cầu vươn rộng ra thế giới bên ngoài, để học hỏi những kiến thức không có trong nhà trường, các bạn trẻ cần ra ngoài làm dự án thật. Đó có thể là việc nghiên cứu một sản phẩm, giải pháp nào đó. Hoặc có thể chỉ là một dự án cộng đồng ở quy mô nhỏ. Dù có làm sai, có thất bại thì các bạn trẻ cũng học được rất nhiều bài học bổ ích để các bạn có thể làm đúng và thành công trong tương lai. Nên nhớ là tất cả trẻ học ở lớp học Montessori đúng nghĩa đều rất vui vẻ với thất bại, vì việc tương tác với giáo cụ Montessori từ thuở nhỏ luôn bắt đầu bằng nhiều lần làm sai, sau đó mới làm đúng. Và khi làm đúng là lúc các bạn trẻ đã đủ trưởng thành để tiến tới những thách thức mới về học thuật và cuộc sống.

4. Giai đoạn IV 18-24 tuổi: Trưởng thành.

Đây là giai đoạn trưởng thành, rất nhiều trẻ ở nước phương Tây ra khỏi nhà khi tròn 18 tuổi.

-       Hình thành đời sống tinh thần

-       Đặc biệt quan tâm khái niệm đúng sai

-       Tích cực tìm kiếm vị trí của mình trên thế giới (xác định nghề nghiệp, mục đích sống)

-       Độc lập về tài chính: Tôi có thể tự mình kiếm được

Hiện chưa có trường đại học Montessori nào trên thế giới. Tuy nhiên nếu theo đúng nguyên tắc Montessori, khi trẻ học trung học đã đi thực tập, học hỏi về môi trường làm việc thực tế, thì trường đại học Montessori không phải là nơi để nghe giảng và học bài. Đại học Montessori sẽ giống như chương trình học Tiến sĩ, hay chương trình thực tập Internship, nơi sinh viên chủ động làm việc, học tập theo ý nguyện của mình, và có thể kiếm tiền trong quá trình “làm việc thử nghiệm” đó.

USPASSS muốn phân tích phần này, mong gửi gắm tới các bạn trẻ hai thông điệp:

-       Điều thứ nhất các bạn cần phải nhìn xa hơn lý tưởng học tập của mình. Học cần chủ động và tự chủ về mọi mặt, đừng để tư duy bị ràng buộc vào sách giáo khoa (Xin nhắc lại Montessori không có sách giáo khoa nào trong giáo trình, tất cả đều sử dụng sách chuyên sâu ở thư viện).

-       Điều thứ hai, là một tin vui. Đó là nếu cách bạn đã tự thách thức bản thân, làm nhiều việc hơn so với chương trình học ở trường, thì các bạn không làm sai với số đông, mà các bạn đang đi đúng so với bản chất phát triển của xã hội loài người thời hiện đại.

Nguyên tắc dạy học theo Phương pháp Montessori

Montessori coi trẻ là Người trưởng thành, đối xử với trẻ như một Người trưởng thành thực thụ. Giáo viên không chỉ là người dạy kiến thức, mà còn là hình mẫu Practical Life cho trẻ. Trẻ học từ môi trường, nên nếu người hướng dẫn không hoặc không cho phép môi trường có hiện tượng quát mắng, đánh đập, chửi thề, ăn vạ, thì trẻ sẽ không bao giờ có những hành vi đó. Dưới đây là “Nội quy” của một số trường Montessori.

-       Không chạm vào trẻ trừ khi được trẻ mời (tôn trọng tuyệt đối)

-       Không bao giờ nói xấu trẻ, trước mặt hay sau lưng

-       Tập trung tăng cường phát triển những đức tính tốt của trẻ, để trẻ không còn không gian (cơ hội) để phát triển nét xấu

-       Tích cực chuẩn bị kỹ lưỡng môi trường xung quanh trẻ. Giúp trẻ tạo dựng mối tương quan với môi trường để học hỏi, phát triển.

-       Luôn sẵn sàng đáp ứng lời thỉnh cầu được hỗ trợ của trẻ, luôn lắng nghe những gì trẻ nói và chia sẻ

-       Tôn trọng trẻ cả khi trẻ mắc lỗi và tự khắc phục lỗi. Tuy nhiên nếu trẻ sai phậm gây tổn hại tới môi trường học tập hay gây nguy hiểm cho trẻ khác, thì cần phải nghiêm khắc chấm dứt hành vi đó

-       Tôn trọng sự yên lặng của trẻ, khi trẻ muốn nghỉ ngơi hay khi ngừng lại và theo dõi hoạt động của những trẻ khác

-       Giúp đỡ trẻ nếu thấy trẻ muốn tìm kiếm hoạt động mà không tìm được

-       Kiên trì tiếp tục trình bày cách tương tác với giáo cụ cho trẻ dù trước đó trẻ không hứng thú, để giúp trẻ hoàn thiện kỹ năng còn yếu. Dùng kiến thức, sự nhiệt huyết, tình yêu thương để trẻ cảm nhận được và tự động tìm đến giáo cụ theo ý nguyện của trẻ (không ép buộc)

-       Coi trẻ là một người trưởng thành với đầy đủ hiểu biết. Cư xử với trẻ bằng sự tôn kính, lịch thiệp nhất.

Tóm lược ứng dụng hữu ích từ Phương pháp Montessori

Ai đó đã nói không có quà tặng nào giá trị bằng thời gian dành cho con cái. Nếu phụ huynh muốn con mình thành tài, thành người, hãy chăm con từ nhỏ một cách khoa học.

-       Cho trẻ làm việc nhà, học tập thông qua sử dụng đôi tay (để phát triển tối đa não bộ)

-       Không mua đồ chơi bán trên thị trường cho trẻ. Nếu không thể mua giáo cụ Montessori do giá thành cao, có thể học cách làm tương tự với chi phí rẻ hơn (Xin nói thêm Montessori đã từng đưa cả đồ chơi và giáo cụ vào thử nghiệm trong lớp học, trẻ chơi đồ chơi rất nhanh chán, chỉ có giáo cụ của bà mới thu hút được sự quan tâm dài hạn, giúp rèn luyện tính kiên trì, sự tập trung ngay từ thuở nhỏ)

-       Học viết, đọc ngay khi trẻ có nhu cầu, khoảng 3-4 tuổi

-       Học ngoại ngữ cũng ở giai đoạn khoảng 4 tuổi. Có thể mua sách song ngữ, flash cards dạy ngoại ngữ cho trẻ, hoặc ba mẹ nói chuyện song ngữ với con ở nhà. Học ngoại ngữ phải thường xuyên nên việc cho đi học trung tâm vài tiếng một tuần là không hiệu quả.

-       Từ 3-10 tuổi não trẻ hoạt động gấp 2.5 lần não người lớn, vì thế phải giúp trẻ thoả mãn đam mê học hỏi, vận động, thay vì trả lời qua loa thắc mắc của trẻ. Đây cũng là lý do tại sao chúng ta thấy rất nhiều nhân tài bộc bộ tài năng từ thuở nhỏ: Mozart, Einstein, Edison...

-       Việc học phải lấy trẻ làm trung tâm, ba mẹ cần quan sát và để trẻ tự học tự làm, như vậy trẻ mới học một cách chủ động và ghi nhớ lâu.

-       Đọc sách là quan trọng, nhưng làm thực tế mới là cần thiết. Không làm thực tế trên đôi tay của chính mình, kiến thức của trẻ dễ rơi và tình trạng “rỗng ruột”, dẫn đến việc nhiều khi trẻ nói mà không hiểu mình nói cái gì.

-       Xây dựng thói quen là cần thiết. Từ nhỏ cần dạy mọi thứ theo quy trình, để trẻ nhập tâm phương pháp đó và sau này tự lấy đó làm phương pháp học tập của mình. Thói quen giúp bé phát triển phần Vô thức của não, là phần giúp bé học tập dài hạn.

-       Khi giới thiệu kiến thức mới cho trẻ, chỉ cần giới thiệu bức tranh tổng thể, tổng quát, để trẻ tự mình tìm hiểu, khám phá chi tiết.

-       Khuyến khích trẻ mơ ước lớn, tuy nhiên cần phải giúp trẻ vạch kế hoạch thực hiện ước mơ, trải nghiệm những gì cần thiết để đạt được ước mơ đó. Đây cũng là phương pháp mà bà mẹ của Adrian Romoff, cậu bé đoạt giải quán quân thần đồng của Mỹ áp dụng thành công cho con mình. http://www.americanbazaaronline.com/2016/03/11/adrian-romoff-beats-arnav-krishna-to-win-lifetimes-100000-child-genius-contest-407825/

-       Không nên lo sợ ngăn cản trẻ đi theo nghề trẻ thích. Việc tìm hiểu chuyên sâu, trải nghiệm thử một nghề nào đó là một quá trình học hỏi bổ ích. Sau này khi môi trường sống thay đổi, trải nghiệm thay đổi, trẻ có thể thay đổi sở thích nghề nghiệp. Tuy nhiên trẻ có thể phát huy phương pháp khám phá đã sử dụng từ trước để áp dụng cho nghề mới. Đây là lý do tại sao nhiều người bỏ nghề đi theo nghề mới lại thành công. Montessori là một ví dụ tiêu biểu.

USPASSS chưa khi nào viết một bài dài như thế này. Tuy nhiên chúng tôi mới chỉ đề cập được một phần rất nhỏ trong tinh tuý của Phương pháp Montessori. Mong phụ huynh và các bạn trẻ hãy dành thời gian tìm hiểu kỹ hơn và áp dụng cho mình, gia đình mình một cách hiệu quả nhất.

Để kết lại bài viết, USPASSS xin trích câu nói của Montessori, một đúc kết rất phù hợp với mục tiêu ra đời của USPASSS: Con người không phải là một cơ thể sinh vật sống chỉ biết hưởng thụ vật chất, hay chỉ sống bằng cảm xúc đơn thuần. Con người là thực thể vượt trội được ban phát trí tuệ đặc biệt và có sứ mệnh lớn trên trái đất. Con người cần phải biến chuyển trái đất, phải chinh phục nó, sử dụng nó và xây dựng nên một thế giới mới với những kỳ quan kỳ diệu hơn cả kỳ quan thiên nhiên. Chỉ có con người mới có thể tạo nên được nền văn minh nhân loại. Đây là công việc vô tận và là lý do vì sao con người được tạo ra những đôi chân khoẻ mạnh và những đôi tay tài hoa. Kể từ khi lọt lòng mẹ, con người đã lao động".

Vậy xin phụ huynh hãy ngừng hỏi chúng tôi khi nào cần chuẩn bị cho con đi du học. Học tập cần phải bắt đầu từ 0 tuổi, từ khi trẻ còn trên nôi. Một cái nhà không thể khoẻ nếu nền móng không khoẻ. Một cây to không thể vững nếu bị bệnh từ gốc rễ. Khoa học và đời sống đã phát triển rất nhiều để chúng ta có thể bổ túc kỹ năng thiếu hụt từ thuở nhỏ nhưng sẽ rất khó và vất vả vì bản chất não bộ chỉ học hỏi tốt nhất một số kỹ năng nhất định theo những “giai đoạn nhạy cảm” chỉ xảy ra một lần duy nhất trong đời.

Chúc các phụ huynh và các bạn trẻ thành công hơn mong đợi!

Lưu ý: Nếu phụ huynh và các bạn trẻ muốn biết chi tiết phần nào hơn về Phương pháp Montessori, vui lòng để lại tin nhắn ở mục comment, chúng tôi sẽ tổng kết và viết lại trong một bài viết mới. (Xin cáo lỗi thời gian có hạn chúng tôi sẽ không trả lời comment của phụ huynh nào trên facebook mà sẽ gom vào trả lời chung ở bài mới). Còn phụ huynh nào muốn chúng tôi hỗ trợ con cái phát triển năng lực và tìm trường trung học, đại học Mỹ, vui lòng gửi thư tới admissions (at) uspasss (dot) org với lịch sử chi tiết về việc học tập của bạn trẻ, để giúp chúng tôi có thể hiểu rõ và có giải pháp hỗ trợ tốt nhất.